Sign In

Cổng thông tin điện tử

Tỉnh Gia Lai

BÁO CÁO VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CÔNG TÁC 9 THÁNG ĐẦU NĂM, TRIỂN KHAI NHIỆM VỤ CÔNG TÁC 3 THÁNG CUỐI NĂM 2018

Ngày đăng: 02-11-2018, 10:00 - Lượt truy cập: 2332

A. TÌNH HÌNH CÔNG TÁC 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2018:

Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 04/12/2017 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 92/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 của HĐND tỉnh tại kỳ họp thứ 5 - khóa XI về tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2017 và triển khai nhiệm vụ công tác năm 2018; được sự quan tâm của Chính phủ và các bộ, ngành trung ương, sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, sự giám sát của HĐND tỉnh, sự phối hợp của Mặt trận, các tổ chức đoàn thể, sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, nhân dân và các doanh nghiệp trong tỉnh; UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo tổ chức triển khai thực hiện các mặt công tác trọng tâm sau:

I. VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI, AN NINH - QUỐC PHÒNG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2018:

1. Về lĩnh vực kinh tế:

1.1. Nông lâm nghiệp: 

- Sản xuất nông lâm nghiệp của tỉnh thực hiện trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là về giống và sử dụng phân bón, các chế phẩm sinh học, tưới tiết kiệm trong sản xuất được nông dân, doanh nghiệp triển khai trên diện rộng. Tổng diện tích gieo trồng 9 tháng đạt 533.319 ha, đạt 100,2% kế hoạch, tăng 2% so với cùng kỳ([1]). Công tác bảo vệ thực vật trên cây trồng được tăng cường.

Tổng diện tích tái canh cây cà phê là 3.234 ha([2]), đạt 142,4% kế hoạch. Thông qua Dự án VnSAT, chương trình khuyến nông địa phương, chương trình hỗ trợ của UTZ Việt Nam, Công ty TNHH Nestle Việt Nam, chương trình hợp tác công tư về cà phê (PPP), trong năm 2018 đã xây dựng 38 mô hình điểm về sản xuất và tái canh cà phê bền vững; 15 vườn mẫu sản xuất cà phê theo tiêu chuẩn 4C, VietGAP tại địa bàn các huyện Đak Đoa, Ia Grai, Chư Prông, Chư Păh, Mang Yang, Đức Cơ.

Đến nay đã có 03 doanh nghiệp và 05 hợp tác xã triển khai thực hiện liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo mô hình cách đồng lớn với 155 điểm xây dựng, tổng diện tích 3.040 ha, với 1.385 hộ tham gia, thực hiện trên địa bàn 59 xã thuộc 10 huyện, thị xã. Các mô hình thực hiện chủ yếu là mía, lúa, cà phê. 

Năm 2018 toàn tỉnh dự kiến xây dựng 33 cánh đồng lớn, với diện tích 2.936 ha. Đến nay có 06 tổ chức (03 doanh nghiệp và 03 hợp tác) liên kết với nông dân để lập 11 dự án xây dựng cánh đồng lớn, tổng quy mô 2.641 ha/24 cánh đồng lớn([3]). Có 23.571 ha cây trồng các loại ứng dụng công nghệ tưới tiên tiến, tiết kiệm nước([4]).

- Chăn nuôi: Theo số liệu điều tra (thời điểm 01/4/2018), đàn trâu có 14.874 con, giảm 1,83% so với cùng kỳ; đàn bò 398,804 con, tăng 7,45%; đàn heo 426.384 con, giảm 5,54%; đàn gia cầm 2.927.520 con, tăng 25,05%. Tổng sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 37.845 tấn, giảm 35,76%. Toàn tỉnh hiện có 210 trại chăn nuôi, trong đó 89 trại chăn nuôi heo với số lượng 1.950 nái, 78.785 heo thịt; 88 trại gia cầm với số lượng 380,720 con; 33 trại bò, số lượng 218.828 con. Trong tháng 2/2018 trên địa bàn huyện Mang Yang có 189 con gia súc mắc bệnh lở mồm long móng (có 01 con chết), UBND tỉnh đã chỉ đạo kịp thời các biện pháp phòng chống dịch. UBND huyện Mang Yang đã công bố hết dịch trên địa bàn huyện vào cuối tháng 4/2018.

- Sản xuất lâm nghiệp: 9 tháng đầu năm đã trồng mới 4.645,2 ha rừng, đạt 66,36% kế hoạch (trong đó trồng rừng phòng hộ 150 ha, rừng sản xuất 3.367,3 ha, trồng cây phân tán 727,9 ha). Công tác chăm sóc rừng, khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh, khai thác rừng trồng đạt kế hoạch đề ra. Số thu dịch vụ môi trường rừng 9 tháng đầu năm ước đạt 92 tỷ đồng, bằng 82% kế hoạch. (có phụ lục 01 kèm theo).

UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng, chống cháy rừng trong mùa khô. Đã ký kết Quy chế phối hợp trong công tác quản lý, bảo vệ rừng vùng giáp ranh với các tỉnh (Đăk Lăk, Kon Tum, Phú Yên, Bình Định). Tuy nhiên vẫn xảy ra 01 vụ cháy rừng tại lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, huyện Ia Grai vào ngày 09/3, thiệt hại 57,6 ha (là diện tích rừng trồng thay thế chưa thành rừng). 9 tháng đầu năm phát hiện 416 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng([5]), giảm 122 vụ so với cùng kỳ; đã xử lý 389 vụ (khởi tố hình sự 18 vụ, xử lý hành chính 143 vụ, tịch thu tang vật 228 vụ); tịch thu 871,5 m3 gỗ các loại và 112 phương tiện; thu nộp ngân sách gần 2,5 tỷ đồng.

1.2. Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới: Năm 2018 có 11 xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới và thị xã An Khê hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Phân bổ 163,9 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển năm 2018 hỗ trợ các địa phương thực hiện Chương trình (trong đó ngân sách trung ương 153,9 tỷ đồng, ngân sách tỉnh 10 tỷ đồng). Triển khai xây dựng bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao giai đoạn 2018-2020 áp dụng trên địa bàn tỉnh. Tập trung chỉ đạo thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU của Tỉnh ủy về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số. Ban hành danh mục dự án phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2018- 2020 trên địa bàn tỉnh. Đến nay, toàn tỉnh có 49 xã đạt 19 tiêu chí; đạt từ 15-18 tiêu chí: 08 xã; đạt từ 10-14 tiêu chí: 25 xã; đạt từ 5-9 tiêu chí: 102 xã; đạt dưới 5 tiêu chí: 01 xã. Bình quân 01 xã đạt 11,29 tiêu chí (phạm vi toàn tỉnh).

1.3. Công nghiệp: Giá trị sản xuất công nghiệp 9 tháng đầu năm (giá so sánh 2010) ước thực hiện 13.996 tỷ đồng, bằng 71,18% kế hoạch, tăng 9,67% so với cùng kỳ; trong đó công nghiệp khai khoáng giảm 13,71%; công nghiệp chế biến chế tạo tăng 12,82%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 4,93%; công nghiệp cung cấp nước, thu gom và xử lý rác thải tăng 4,22% ([6]).

Khu Công nghiệp Trà Đa thu hút thêm 06 dự án với tổng vốn đăng ký 174 tỷ đồng. Hiện có 48 nhà đầu tư triển khai 53 dự án (có 04 dự án FDI), tổng vốn đầu tư đăng ký 2.006 tỷ đồng. Có 35 dự án đã đi vào hoạt động, giá trị sản xuất 9 tháng đầu năm ước đạt 2.279 tỷ đồng (tăng 32% so với cùng kỳ), nộp ngân sách nhà nước 33 tỷ đồng (tăng 23%), kim ngạch xuất khẩu đạt 145,6 triệu USD (tăng 28%), giải quyết việc làm cho 1.823 lao động (tăng 6%), với thu nhập bình quân 5,1 triệu đồng/người/tháng.

Khu Kinh tế cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh thu hút thêm 05 dự án với tổng vốn đăng ký 335 tỷ đồng. Hiện có 20 nhà đầu tư triển khai 27 dự án, tổng vốn đăng ký 726 tỷ đồng, có 11 dự án đã đi vào hoạt động, tổng doanh thu ước đạt 1.216 tỷ đồng. Kim ngạch xuất, nhập khẩu qua Cửa khẩu đạt 70,1 triệu USD, giảm 46%.

Hiện 222/222 xã, phường, thị trấn của tỉnh có lưới điện quốc gia, có 99,45% hộ sử dụng điện. Toàn tỉnh có 08 nhà máy thuỷ điện lớn do EVN đầu tư đang vận hành, với tổng công suất 1.907 MW; 36 thủy điện vừa và nhỏ đang vận hành với tổng công suất 294,45 MW (ngoài ra còn có 05 dự án thủy điện đang triển khai đầu tư với tổng công suất 44,7 MW; 14 dự án thủy điện có trong quy hoạch nhưng chưa có chủ trương đầu tư với tổng công suất 45,4 MW). Sản lượng điện tiết kiệm 9 tháng ước đạt 14,5 triệu kwh, tương đương 27,4 tỷ đồng.

1.4. Đầu tư - Xây dựng:

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 9 tháng đầu năm ước thực hiện 16.052 tỷ đồng, đạt 72,96% kế hoạch (đạt 71,34% kế hoạch phấn đấu), tăng 21,85% so với cùng kỳ.

Vốn đầu tư phát triển nguồn ngân sách nhà nước năm 2018 phần do tỉnh quản lý là 3.329,13 tỷ đồng. Tính đến cuối tháng 9, khối lượng thực hiện 1.245,5 tỷ đồng, đạt 37,41% kế hoạch; giải ngân 1.536,62 tỷ đồng, đạt 46,16% kế hoạch([7]). Trong số 64 dự án khởi công mới, đến cuối tháng 9 có 01 dự án hoàn thành, 60 dự án đang triển khai thi công, 03 dự án đang hoàn chỉnh thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản([8]). Có 06 dự án chuyển tiếp giải ngân thấp([9]). UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đảm bảo hoàn thành kế hoạch.​

1.5. Thương mại - xuất nhập khẩu:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 9 tháng đầu năm ước đạt 42.862 tỷ đồng, bằng 74,54% kế hoạch, tăng 12,05% so cùng kỳ.  Nhìn chung lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng, đảm bảo phục vụ nhu cầu của người dân và cung ứng kịp thời đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong dịp lễ, tết. 9 tháng đầu năm, các lực lượng chức năng thuộc Ban chỉ đạo 389 tỉnh đã phát hiện 3.466 vụ vi phạm, khởi tố xử lý hình sự 34 vụ, xử lý vi phạm hành chính 2.661 vụ; xử phạt vi phạm và bán hàng hóa tịch thu với số tiền gần 37,2 tỷ đồng.

- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9 tăng 0,13% so với tháng 8, tăng 3,11% so với cùng kỳ và tăng 2,28% so với cuối năm 2017 ([10]). Tính chung 9 tháng tăng 3,02% so với cùng kỳ.

- Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng ước đạt 350,5 triệu USD, bằng 74,57% kế hoạch, tăng 3,89% so với cùng kỳ. Mặc dù giá các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực: cà phê, cao su, tiêu hạt... giảm so với cùng kỳ, nhưng khối lượng xuất khẩu các mặt hàng cà phê, cao su tăng đã làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu.

- Kim ngạch nhập khẩu 9 tháng ước đạt 79,44 triệu USD, bằng 92,37% kế hoạch, giảm 27,52% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh chủ yếu tập trung vào mặt hàng gỗ nguyên liệu, sắn lát.

1.6. Tài chính - Ngân hàng:

a) Tài chính:

- Thu ngân sách trên địa bàn 9 tháng đầu năm đạt 3.333,54 tỷ đồng (chưa tính số tạm thu ngân sách 94,7 tỷ đồng), bằng 83,69% dự toán trung ương giao, bằng 79,37% dự toán HĐND tỉnh giao (bằng 74,08% kế hoạch phấn đấu), tăng 3,38% so với cùng kỳ; trong đó thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt 81,98% dự toán HĐND tỉnh giao, thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương đạt 75,13%, thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 342,43%, thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 77,84%, thu thuế bảo vệ môi trường đạt 68,89%, thu tiền sử dụng đất đạt 107,02%. Có 13/17 địa phương có số thu đạt và vượt kế hoạch. (có phụ lục 02 kèm theo).

- Tổng chi ngân sách địa phương 9 tháng đạt 7.635,75 tỷ đồng, bằng 63,62% dự toán HĐND tỉnh giao, tăng 12,24% so với cùng kỳ. UBND tỉnh đã chỉ đạo tăng cường công tác quản lý chi ngân sách, hướng dẫn việc triển khai thực hiện quy định về tổ chức thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018. Chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.

Các kết luận của Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước được triển khai thực hiện nghiêm túc. Việc khắc phục kiến nghị của Thanh tra Chính phủ năm 2013 đạt 68% (do số tiền dự án 77,6 tỷ đồng của Công ty VKland hiện đang đề nghị điều chỉnh dự án và 8,069 tỷ đồng tiền bán gỗ chuyển đổi mục đích của dự án trồng cao su năm 2008 hiện thi hành án đang xử lý); thực hiện kiến nghị của Kiểm toán ngân sách nhà nước năm 2012 đạt 94%, năm 2014 đạt 99%, năm 2015 đạt 93%, năm 2016 đạt 98,7%.

b) Ngân hàng: Ngành ngân hàng chấp hành nghiêm túc các quy định về mức lãi suất huy động, cho vay tối đa. Tiếp tục triển khai các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi như: Cho vay tái canh cà phê, hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, tưới tiết kiệm nước, chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, chương trình bình ổn thị trường, cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa... Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn đến cuối tháng 9 ước đạt 35.100 tỷ đồng, tăng 9,2% so với so với cùng kỳ và tăng 8,8% so với cuối năm 2017; tổng dư nợ cho vay 84.000 tỷ đồng, tăng 13,5% so với cùng kỳ và tăng 7,5% so với cuối năm 2017 (trong đó: vay ngắn hạn chiếm 64,8%, trung và dài hạn chiếm 35,2%); tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,46% tổng dư nợ (1.230 tỷ đồng), tăng 30,8% so với cuối năm 2017([11]).

Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội đã triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình cho vay hỗ trợ. Năm 2018, tỉnh đã tiếp tục bổ sung 10 tỷ đồng vốn ngân sách tỉnh, ủy thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội để thực hiện cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách (tổng vốn ủy thác từ ngân sách tỉnh đến nay là 95 tỷ đồng).

1.7. Giao thông vận tải: Tăng cường năng lực vận tải, bảo đảm an toàn kỹ thuật phương tiện, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi tối đa cho nhân dân, nhất là trong dịp Tết, các đợt nghỉ lễ. Tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh vi phạm về chở hàng quá khổ, quá tải, kiểm tra tốc độ vận hành của phương tiện kinh doanh vận tải thông qua thiết bị giám sát hành trình([12]); tập trung duy tu, sửa chữa hệ thống hạ tầng kỹ thuật giao thông nhằm đảm bảo an toàn giao thông trong mùa mưa bão. Doanh thu vận tải 9 tháng đầu năm ước đạt 3.734 tỷ đồng, đạt 67,56% kế hoạch, tăng 13,16% so với cùng kỳ([13]).

 1.8. Tài nguyên môi trường: Tập trung thực hiện các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt. Tiếp tục rà soát lại các quỹ đất để xây dựng thông tin cụ thể nhằm kêu gọi đầu tư. Ban hành quy định về hạn mức giao đất, công nhận quyền sử dụng đất và diện tích tối thiểu được phép tách thửa; quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh. 9 tháng đầu năm đã giao đất cho 39 tổ chức, với tổng diện tích 1.223,25 ha; cho 45 tổ chức thuê đất với tổng diện tích 1.104,98 ha. Cấp 14 giấy phép thăm dò khoáng sản, 06 giấy phép khai thác khoáng sản, thu hồi 01 giấy phép khai thác khoáng sản, phê duyệt tiền trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 10 khu vực mỏ; phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường 13 dự án; phê duyệt phương án cải tạo, phục hồi môi trường 11 dự án. Tiếp tục triển khai Đề án điều tra, đánh giá khoanh định vùng cấm và vùng hạn chế khai thác sử dụng nước dưới đất. Tập trung kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, khai thác khoáng sản, nhất là khai thác cát, sỏi.

UBND tỉnh chỉ đạo quyết liệt việc điều chỉnh dự án tổng thể xây dựng hệ thống dữ liệu hồ sơ địa chính và cơ sở quản lý đất đai tỉnh, yêu cầu phải hoàn thành đúng tiến độ. Triển khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu đạt 96,12%. (có phụ lục 03 kèm theo)

  

2. Công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, kêu gọi đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp:

- UBND tỉnh đã rà soát, phân tích đánh giá cụ thể từng tiêu chí, các mặt yếu kém của từng sở, ngành, địa phương để chỉ đạo xây dựng kế hoạch khắc phục từng tiêu chí của Bộ chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố) ([14]) và Bộ chỉ số cải cách hành chính năm 2017 (do Bộ Nội vụ công bố) ([15]); công bố kết quả xếp hạng cải cách hành chính năm 2017 của tỉnh. Nhìn chung, công tác cải cách hành chính trong một số lĩnh vực bước đầu đã phát huy hiệu quả.

- UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo. Lắng nghe và kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Mời đại diện các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp tham dự các hội nghị có liên quan của tỉnh, hội nghị trực tuyến của Chính phủ, các bộ, ngành trung ương để doanh nghiệp nắm, tham gia, đồng hành trong quá trình triển khai thực hiện. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tham gia các hội chợ, triển lãm, góp phần quảng bá sản phẩm; tổ chức đối thoại định kỳ với cộng đồng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Ban hành Chương trình khởi nghiệp giai đoạn 2018-2020.

- Tình hình ứng dụng công nghệ thông tin, nhất là trong công tác cải cách thủ tục hành chính, tiếp tục có chuyển biến tích cực. Các thông tin chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh được cung cấp kịp thời trên cổng thông tin điện tử, dịch vụ hành chính công trực tuyến. Các sở, ngành, địa phương đã cung cấp 1.492 thủ tục hành chính công trực tuyến mức độ 2; 331 thủ tục mức độ 3 và 117 thủ tục mức độ 4; có 17/17 UBND cấp huyện, 17 đơn vị cấp sở, ban, ngành đã được triển khai mô hình “Một cửa điện tử liên thông". Đã triển khai việc giao, đôn đốc và nhắc việc qua tin nhắn SMS đến lãnh đạo các sở, ngành, địa phương. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đã đi vào hoạt động.

- Trong 9 tháng có 515 doanh nghiệp và 231 chi nhánh thành lập mới, đạt 66,88% kế hoạch (tăng 15,47% so với cùng kỳ); tổng vốn đăng ký 3.485 tỷ đồng (tăng 17,6%); xử lý giải thể 56 doanh nghiệp (tăng 5,6%); có 104 doanh nghiệp và đơn vị trực thuộc tạm ngưng hoạt động. Toàn tỉnh hiện có 4.635 doanh nghiệp đăng ký hoạt động với tổng vốn đăng ký hơn 88.833 tỷ đồng. (có phụ lục 04 kèm theo).

- Tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư giữa thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Gia Lai năm 2018; tại hội nghị đã trao quyết định chủ trương đầu tư cho 10 dự án với tổng vốn đăng ký gần 5.000 tỷ đồng và ký kết biên bản ghi nhớ đầu tư dự án với 11 nhà đầu tư tổng vốn đăng ký trên 17.000 tỷ đồng.

- Trong 9 tháng đầu năm có 44 dự án được phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư, với tổng vốn đăng ký 4.293 tỷ đồng. Hiện trên địa bàn có 91 dự án đã được phê duyệt quyết định chủ trương đầu tư và đang triển khai các thủ tục, với tổng vốn đăng ký 10.200 tỷ đồng. Có 60 dự án được các nhà đầu tư quan tâm, đề xuất thực hiện, với tổng vốn đăng ký khoảng 20.000 tỷ đồng. Ngoài ra còn có 32 dự án điện mặt trời của 23 nhà đầu tư đã được thống nhất chủ trương khảo sát, nghiên cứu đầu tư, với quy mô 3.951 MW (02 dự đã được Bộ Công thương phê duyệt bổ sung quy hoạch) và 05 nhà đầu tư lắp đặt các trụ đo gió để triển khai khảo sát đánh giá tiềm năng năng lượng gió, làm cơ sở nghiên cứu đầu tư xây dựng các dự án điện gió.

- Hoàn thành việc cổ phần hóa tại Công ty TNHH MTV Cà Phê Gia Lai và Công ty TNHH MTV Chè Biển Hồ.

- Công tác phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã được chỉ đạo quyết liệt và đã có nhiều chuyển biến. 9 tháng đầu năm đã thành lập mới 43 hợp tác xã. Toàn tỉnh hiện có 181 hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã năm 2012 (gồm 133 HTX nông nghiệp, 21 HTX vận tải, 09 HTX công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, 08 HTX xây dựng, 04 HTX thương mại và 06 quỹ tín dụng nhân dân) với 16.291 thành viên và giải quyết việc làm cho 1.690 lao động. Ngoài ra còn có 719 tổ hợp tác với 6.912 thành viên.

3. Về văn hoá - xã hội:

3.1. Giáo dục- Đào tạo: Hoạt động dạy và học đảm bảo theo kế hoạch, các nhiệm vụ trọng tâm được toàn ngành thực hiện nghiêm túc, tích cực. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; tiếp tục triển khai kế hoạch tăng cường tiếng Việt cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học vùng dân tộc thiểu số; tỷ lệ tốt nghiệp đạt 95,34%, tăng 2,48% so với kỳ thi năm 2017, trong đó: hệ giáo dục phổ thông đạt 98,02% (tăng 1,37%), hệ giáo dục thường xuyên đạt 49,85% (tăng 0,75%)([16]).

UBND tỉnh chỉ đạo tập trung xử lý các vướng mắc trong thực hiện Nghị quyết 19 - Hội nghị Trung ương 6 - khóa XII và chuẩn bị chu đáo cơ sở trường, lớp học để đảm bảo điều kiện triển khai năm học mới; triển khai công tác nhận bàn giao các trường THCS sáp nhập vào trường THPT. 100% trường học trên địa bàn đã tổ chức khai giảng và triển khai kế hoạch năm học mới theo đúng quy định ([17]); tỷ lệ huy động trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 88%. Hiện có 270 trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia, đạt 34,26% (gồm: 67 trường mầm non, 104 trường tiểu học, 85 trườngTHCS, 14 trường THPT).

3.2. Y tế, dân số và kế hoạch hóa gia đình:

- Công tác xã hội hóa y tế được chú trọng([18]). Mạng lưới y tế tiếp tục được củng cố và phát triển. Toàn tỉnh hiện có 3.870 giường bệnh (tuyến tỉnh 1.630 giường, tuyến huyện 1.200 giường, tuyến xã 1.040 giường), đạt tỷ lệ 25,1 giường bệnh/vạn dân; có 4.475 cán bộ y tế (trong đó có 889 bác sỹ, 328 dược sĩ), 2.082 nhân viên y tế thôn bản; đạt tỷ lệ 7,71 bác sĩ/vạn dân; 88% số xã có bác sỹ; 100% số xã có nữ hộ sinh. Tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 74%.

- 9 tháng đầu năm không có dịch lớn xảy ra trên địa bàn; các dịch bệnh như sốt xuất huyết, tay chân miệng... giảm so với cùng kỳ; dịch hạch, tả, bệnh than, uốn ván sơ sinh, viêm não mô cầu không có trường hợp mắc/chết; không ghi nhận ca mắc các dịch bệnh mới nổi như Cúm A, MERS-CoV, Ebola, bệnh do virus Zika. Khám, điều trị cho 1.237 bệnh nhân sốt xuất huyết, giảm 32,18% so với cùng kỳ (không có tử vong); 450 bệnh nhân sốt rét; 1.134 bệnh nhân phong; 462 bệnh nhân lao; 8.880 bệnh nhân tâm thần. Phát hiện mới 44 bệnh nhân nhiễm HIV, 09 bệnh nhân AIDS; có 09 trường hợp tử vong do AIDS. Việc cung ứng thuốc, vắc xin và vật tư y tế cho phòng chống dịch, khám chữa bệnh được đảm bảo.

- Kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm 4.436 cơ sở, phát hiện 812 cơ sở vi phạm. Xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại xã Ia Ko, huyện Chư Sê vào ngày 28/02/2018 (có 25 người nhập viện, không có tử vong), nguyên nhân do ăn thịt gà chết có tồn dư thuốc diệt chuột Fokeba 20CP.

3.3. Văn hóa - Thể thao - Du lịch:

- Các hoạt động nhân dịp Tết Nguyên đán, các ngày lễ kỷ niệm, các sự kiện nổi bật của tỉnh được tổ chức chu đáo. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước đến tận vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Công tác bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc được chú trọng; hoàn thành công trình Bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa căn cứ địa cách mạng Khu 10, xã Krong, huyện Kbang; xếp hạng di tích khảo cổ học cấp tỉnh Di tích khảo cổ thời đại đá cũ Gò Đá và thời đại đá cũ Rộc Tưng (thị xã An Khê), di tích cấp tỉnh đối với di tích lịch sử Khu lưu niệm anh hùng Wừu tại huyện Đak Đoa,...; nghiên cứu, sưu tầm văn hoá truyền thống tại khu vực dự kiến xây dựng công viên địa chất tỉnh Gia Lai.

- Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020. Đa dạng hóa các hoạt động thể dục thể thao nhằm đáp ứng nhu cầu tập luyện của nhân dân. Đã tổ chức, phối hợp tổ chức thành công các giải thể thao trên địa bàn và tham gia các giải thể thao khu vực, toàn quốc theo kế hoạch, nổi bật như: Giải Billiards Snooker các câu lạc bộ toàn quốc (vòng 1), giải bóng đá U19 Quốc tế, Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ VIII - năm 2018, Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân năm 2018...

- Hoạt động quảng bá xúc tiến, liên kết phát triển du lịch được chú trọng; tham gia Hội chợ Du lịch quốc tế VITM Hà Nội, Ngày hội Du lịch thành phố Hồ Chí Minh, triển lãm Quốc tế Du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh - ITE HCMC; phối hợp Đài Truyền hình Việt Nam, Báo Nhân dân, Tổng công ty Du lịch Sài Gòn quảng bá du lịch tỉnh; tổ chức  khảo sát xây dựng sản phẩm và toạ đàm liên kết phát triển sản phẩm và quảng bá du lịch giữa Gia Lai và thành phố Hồ Chí Minh; phối hợp với một số tỉnh khảo sát các điểm du lịch trên địa bàn để kết nối tour giữa các địa phương; phối hợp với các doanh nghiệp viễn thông triển khai quảng bá du lịch của tỉnh qua dịch vụ tin nhắn SMS. Tổ chức phổ biến văn bản pháp luật triển khai Luật Du lịch cho các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh; triển khai Bộ Quy tắc ứng xử văn minh du lịch đến các cơ sở lưu trú, điểm du lịch, doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, đơn vị vận chuyển khách… 9 tháng đầu năm có hơn 440.000 lượt khách du lịch đến tỉnh, tăng 17% so với cùng kỳ (có 9.500 lượt khách quốc tế tăng 20%). Doanh thu du lịch ước đạt 212 tỷ đồng tăng 19%. Toàn tỉnh có 09 doanh nghiệp lữ hành, 79 cơ sở lưu trú với tổng số 2.013 buồng.

3.4. Thông tin - truyền thông - Phát thanh truyền hình:

- Cơ sở hạ tầng, các thiết bị thuộc mạng lưới bưu chính viễn thông trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định; các doanh nghiệp viễn thông đã đảm bảo an toàn thông tin liên lạc các dịp lễ, tết. Toàn tỉnh có 1.518 trạm thu phát sóng (BTS), 07 trạm điều khiển thông tin di động (BSC). Tỷ lệ thuê bao điện thoại đạt 88,79% thuê bao/100 dân; tỷ lệ dân sử dụng Internet đạt 49,97%. Tổ chức phát hành bộ tem động vật Vườn quốc gia Kon Ka Kinh. Doanh thu bưu chính, viễn thông 9 tháng đầu năm ước đạt 1.205 tỷ đồng, tăng 1,01% so với cùng kỳ.

- Toàn tỉnh hiện có 04 cơ quan báo chí địa phương và 23 cơ quan có văn phòng đại diện hoặc phóng viên thường trú. UBND tỉnh đã thực hiện đúng quy định về họp báo định kỳ, cung cấp cho các cơ quan báo chí thông tin chính thức, làm rõ những vấn đề được dư luận xã hội quan tâm. Hoạt động thông tin, báo chí, phát thanh truyền hình đã tập trung tuyên truyền việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các hoạt động chính trị, các hoạt động chào mừng các ngày lễ, kỷ niệm. Báo Gia Lai phát hành 220 kỳ với 2.025.500 tờ. Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh đã phát thanh 10.098 giờ, truyền hình 30.917 giờ (trong đó tiếng Bahnar và tiếng Jrai 1.228 giờ). Hiện có 213/222 xã, phường, thị trấn có báo đến trong ngày (tỷ lệ 95,95%).

3.5. Lao động - Thương binh và Xã hội:

- Thực hiện kịp thời, đầy đủ các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công; người hưởng chính sách trợ giúp xã hội; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghèo; đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách khác. Tổ chức trọng thể Lễ đón, truy điệu và an táng 21 hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh qua các thời kỳ ở Campuchia về Nghĩa trang liệt sĩ Đức Cơ. Giải quyết 637 hồ sơ người có công, đưa 200 người có công đi điều dưỡng tập trung tại Đà Nẵng và Lâm Đồng. Toàn tỉnh hiện có 21/21 Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống được các cơ quan, đơn vị nhận chăm sóc. Tổ chức rà soát việc hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định số 603/QĐ-UBND ngày 12/10/2015.

- 9 tháng đầu năm đã giải quyết việc làm cho 19.300 lao động, đạt 77,2% kế hoạch, tăng 0,4% so với cùng kỳ (trong đó xuất khẩu lao động 1.140 người). Tổ chức 18 phiên giao dịch việc làm định kỳ và lưu động tư vấn cho 9.307 lượt người, có 365 doanh nghiệp tuyển dụng 768 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề (tỷ lệ qua đào tạo giáo dục nghề nghiệp) ước đạt 32,65%, tăng 1,05% so với cùng kỳ.

- Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững: Đến cuối năm 2017 tỷ lệ hộ nghèo giảm 3,21% so với năm 2016, còn 13,34%; tỷ lệ hộ cận nghèo 9,83%. Tổ chức hội nghị đánh giá giữa kỳ thực hiện Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020. UBND tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện chương trình, với nhiệm vụ trọng tâm là đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, hạn chế tái nghèo, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu đến cuối năm 2018 toàn tỉnh không còn hộ nghèo là người có công, giảm tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phân bổ kịp thời các nguồn vốn, triển khai đồng bộ các giải pháp để thực hiện chương trình.

- 9 tháng đầu năm đã thực hiện chi trả bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp 1.753 tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ. Thu bảo hiểm các loại 1.585 tỷ đồng, tăng 13,3%. Toàn tỉnh hiện có 79.316 người tham gia bảo hiểm xã hội, chiếm 8,8% lực lượng lao động; 63.379 người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, chiếm 7,1% lực lượng lao động; 1.276.618 người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm 87,43% dân số của tỉnh. Nợ đọng các loại bảo hiểm gần 244 tỷ đồng, chiếm 11,08% tổng số phải thu.

3.6. Khoa học và Công nghệ:

Tiếp tục hướng dẫn, theo dõi tình hình áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO 9001:2008 tại các cơ quan hành chính các cấp. Đến nay đã có 212/222 xã, phường, thị trấn đã triển khai xây dựng và công bố hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn Quốc gia TCVN ISO 9001:2008, đạt 95,5%.

Hướng dẫn các đơn vị triển khai thực hiện 03 dự án trung ương quản lý và 03 dự án trung ương ủy quyền tỉnh quản lý thuộc chương trình nông thôn miền núi thực hiện từ năm 2017, 2018; quản lý, theo dõi 34 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh đang triển khai thực hiện (trong đó có 10 nhiệm vụ dự kiến thực hiện trong năm 2018); tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh triển khai năm 2018; nghiệm thu 03 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh; cấp 04 giấy chứng nhận hoạt động khoa học và công nghệ. Hướng dẫn 90 tổ chức, cá nhân về đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp; hỗ trợ xây dựng hồ sơ dự án xây dựng nhãn hiệu “Gạo Phú Thiện" và “rau An Khê". Cấp 11 giấy phép tiến hành công việc bức xạ trong y tế, 06 chứng chỉ nhân viên bức xạ; kiểm định và hiệu chuẩn 5.739 phương tiện đo lường và thử nghiệm 1.320 mẫu sản phẩm; kiểm định 13 thiết bị X-Quang cho các cơ sở y tế. Tổ chức 14 lớp tập huấn phổ biến kiến thức về khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh với hơn 1.400 lượt người tham dự. Hoàn thiện dự án: “Đầu tư tăng cường năng lực Trung tâm Ứng dụng và Chuyển giao công nghệ tỉnh".

3.7. Công tác dân tộc - tôn giáo:

a) Công tác dân tộc: 9 tháng đầu năm các chương trình, chính sách dân tộc được UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo triển khai thực hiện kịp thời. Các mặt hàng chính sách theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg đã thực hiện hỗ trợ giống cây trồng, phân bón, bò giống, đạt 100% kế hoạch; muối Iốt đạt 85,67% kế hoạch. Kinh phí thực hiện 58,66 tỷ đồng, đạt 70,21% kế hoạch. Chương trình 135 thuộc Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững, đã hỗ trợ 18,4 tấn giống ngô lai và lúa và 475,6 tấn phân bón các loại, với số vốn đã giải ngân 8,5 tỷ đồng; vốn hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn thực hiện và giải ngân ước đạt 57,38% kế hoạch. Tổ chức rà soát Đề án thực hiện Quyết định 2085/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đặc thù hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2017-2020 trên địa bàn tỉnh báo cáo Ủy ban Dân tộc, với kinh phí Đề án là 546,4 tỷ đồng. Tổng hợp danh sách người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số năm 2018. Tiếp tục triển khai thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số".

b) Công tác tôn giáo: Bên cạnh việc tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự lĩnh vực tôn giáo, các địa phương đã tạo điều kiện và giải quyết kịp thời các nhu cầu chính đáng của tổ chức và cá nhân tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

3.8. Công tác phối hợp giữa UBND tỉnh với Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức hội, đoàn thể tiếp tục được chú trọng trong việc tuyên truyền đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Phối hợp chặt chẽ trong phát huy dân chủ, giám sát và phản biện xã hội; tham gia xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo; tích cực phối hợp trong cải cách hành chính; đánh giá sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với dịch vụ hành chính công để tạo chuyển biến mạnh từ tỉnh đến xã. Thúc đẩy các hoạt động an sinh xã hội, giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường và tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng ngừa, phát hiện tố giác tội phạm và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông.

4. Lĩnh vực nội chính:

4.1. Công tác đảm bảo an ninh chính trị, quốc phòng, quân sự địa phương: Tình hình an ninh chính trị trên địa bàn tiếp tục được giữ vững ổn định; các lực lượng chức năng duy trì nghiêm kỷ luật quân đội, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, tổ chức tuần tra canh gác bảo đảm an toàn, tăng cường bám địa bàn, nắm dân và phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở thực hiện các biện pháp công tác bảo vệ biên giới, ngăn chặn vượt biên, quản lý tạm trú tại khu vực biên giới; gọi hỏi, răn đe các đối tượng liên quan hoạt động Fulro, “Tin lành Đê ga", tà đạo “Hà Mòn"; bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Thực hiện tốt công tác phối hợp giữa 3 lực lượng công an, quân sự, biên phòng. Tổ chức giao quân năm 2018 đạt 100% kế hoạch (2.200 quân). Thực hiện đăng ký quân nhân dự bị đúng quy định, biên chế đạt 99,7%. Rà soát, củng cố 448 đầu mối dân quân tự vệ. Phối hợp diễn tập A3 cùng với các lực lượng vũ trang của Quân khu 5. Xây dựng và tổ chức diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện năm 2018 cho các huyện Chư Pưh, Chư Sê, Ia Grai, Ia Pa.

4.3. Công tác nội vụ: Tiếp tục rà soát, xây dựng kế hoạch thực hiện tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy hành chính theo quy định của Trung ương và Tỉnh ủy (Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017; Kế hoạch số 120-KH/TU ngày 19/3/2018 và Chương trình số 64-CTr/TU ngày 05/6/2018 của Tỉnh ủy). Rà soát, đánh giá thực trạng bằng cấp, tiêu chuẩn công chức, tiêu chí việc làm của từng cán bộ, nhân viên, từng đơn vị; xác định lại vị trí việc làm, giảm bớt đầu mối trung gian; sắp xếp lại bộ máy hành chính đảm bảo đạt năng suất lao động ngày càng tốt hơn. Phê duyệt sửa đổi, bổ sung Kế hoạch tinh giản biên chế của tỉnh giai đoạn 2015-2021. Thực hiện đúng quy định, kịp thời công tác quản lý nhà nước về chính quyền địa phương, công tác cán bộ, chính sách đối với cán bộ công chức như quy hoạch, điều động, bổ nhiệm, nâng lương, kỷ luật,... Tăng cường kiểm tra việc chấp hành giờ giấc làm việc của cán bộ, công chức, viên chức.

Công tác thi đua khen thưởng được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp đã tích cực hưởng ứng và phát động các phong trào thi đua sâu rộng, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, địa phương; nhất là phát động thi đua chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc - Ngày Truyền thống thi đua yêu nước (11/6/1948 - 11/6/2018).

4.4. Công tác tư pháp: Việc tuyên truyền, triển khai các văn bản pháp luật mới được thực hiện kịp thời. Ban hành Kế hoạch triển khai công tác pháp chế và công tác văn bản quy phạm pháp luật năm 2018; Kế hoạch thực hiện Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2018 - 2020" trên địa bàn tỉnh. Triển khai kế hoạch hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Trong 9 tháng đầu năm đã thẩm định, góp ý 190 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; xác minh 2.425 hồ sơ, cấp 2.370 phiếu lý lịch tư pháp; thực hiện trợ giúp pháp lý 806 vụ việc. Các tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng 54.827 việc. Trung tâm Dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh đã đấu giá thành 33 vụ, giá trị trên 40 tỷ đồng.

4.5. Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng:

- Triển khai 123 cuộc thanh tra về quản lý, sử dụng ngân sách, việc trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ diện tích rừng trồng và thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng tại 143 đơn vị. Đã kết thúc và kết luận 99 cuộc tại 113 đơn vị, có 74 đơn vị sai phạm với số tiền trên 36,3 tỷ đồng, kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 18,9 tỷ đồng, hoàn trả ngân sách 745 triệu đồng, giảm trừ quyết toán gần 441 triệu đồng; chuyển cơ quan điều tra 05 vụ.

Triển khai 71 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành đối với 791 tổ chức, cơ sở và 1.047 cá nhân. Phát hiện 345 tổ chức, cơ sở và 490 cá nhân vi phạm; xử phạt vi phạm hành chính với số tiền gần 6,8 tỷ đồng; đã nộp phạt số tiền 5,3 tỷ đồng.

- Trong 9 tháng đầu năm các ngành, các cấp đã tiếp 2.932 lượt công dân (tiếp thường xuyên 1.672 lượt, Đoàn Đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp tiếp công dân định kỳ 1.260 lượt). Tiếp nhận 213 đơn (gồm 143 đơn khiếu nại, 70 đơn tố cáo), giảm 130 đơn so với cùng kỳ. Có 103 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết (bao gồm 18 vụ năm 2017 chuyển sang). Đã xác minh, giải quyết xong 84 vụ. Ngoài ra các ngành, các cấp đã tiếp nhận và xử lý 1.636 đơn kiến nghị.

4.6. Ngoại vụ: Duy trì tốt mối quan hệ truyền thống với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia. Tăng cường công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế, nhất là ngoại giao kinh tế, xúc tiến đầu tư, thúc đẩy quan hệ hợp tác theo phương châm đa dạng hóa đối tác, lĩnh vực đối tác. Thực hiện chu đáo công tác đón tiếp khách nước ngoài, 9 tháng đầu năm có 100 đoàn 693 khách nước ngoài đến thăm, làm việc tại tỉnh (UBND tỉnh tiếp 20 đoàn, gồm 175 khách).

Thực hiện chặt chẽ, đúng quy định công tác quản lý đoàn ra. UBND tỉnh cử và cho phép 34 đoàn với 158 lượt cán bộ, công chức đoàn đi công tác, bồi dưỡng, dự hội nghị, hội thảo, trao đổi kinh nghiệm tại một số quốc gia, khu vực. Các cơ quan, đơn vị đã cho 93 lượt cán bộ, công chức, viên chức đi nước ngoài giải quyết việc riêng (tham quan du lịch, giải quyết việc riêng).

ĐÁNH GIÁ CHUNG:

Các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, chỉ đạo của trung ương, của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh đã được UBND tỉnh triển khai kịp thời. Tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục chuyển biến tích cực. Không xảy ra dịch bệnh lớn trên cây trồng, vật nuôi. Thu ngân sách nhà nước 9 tháng cao nhất từ trước đến nay. Các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, kim ngạch xuất khẩu, nguồn vốn huy động - cho vay ngân hàng, tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn đều tăng so với cùng kỳ; Công tác quản lý, bình ổn giá cả, phòng chống gian lận thương mại được triển khai quyết liệt. Tình hình kêu gọi đầu tư có khởi sắc; số doanh nghiệp, hợp tác xã thành lập mới tăng khá. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học - công nghệ, thông tin - truyền thông, lao động việc làm tiếp tục có bước phát triển; quan tâm và chăm lo các gia đình chính sách, người có công, đối tượng xã hội cộng đồng. Các vấn đề bức xúc xã hội, khiếu nại tố cáo được tập trung xử lý. Thực hiện tốt công tác đối ngoại. An ninh chính trị, an ninh biên  giới, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo.  

Tuy nhiên, tình hình sản xuất một số lĩnh vực còn khó khăn. Giá cả một số mặt hàng nông sản xuống thấp (tiêu, cao su, cà phê…) ảnh hưởng đến sản xuất và thu nhập của người dân; việc triển khai một số chương trình, dự án trong sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tạo được sự lan tỏa; tình trạng phá rừng, khai thác, vận chuyển lâm sản trái phép ở một số địa phương vẫn còn diễn ra. Công tác quản lý theo quy hoạch; quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, môi trường còn bất cập. Một số dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước vẫn chậm hoàn thành thủ tục; công tác giải phóng mặt bằng còn vướng mắc; giải ngân vốn chưa đạt yêu cầu. Một số dự án kêu gọi đầu tư chậm triển khai thực hiện và kéo dài. Việc rà soát, điều chỉnh dự án tổng thể xây dựng hệ thống địa chính và cơ sở dữ liệu quản lý đất đai chậm. Công tác xã hội hóa trong khám chữa bệnh, giáo dục, đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu. Công tác cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh chưa được như mong muốn; thủ tục hành chính còn phức tạp, gây khó khăn, tốn kém thời gian và chi phí của doanh nghiệp. Trách nhiệm của một số người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương chưa cao, công tác phối hợp chưa tốt. Một bộ phận cán bộ, công chức vẫn chưa tận tâm phục vụ, cần được chấn chỉnh kịp thời. Một số sở, ngành, địa phương chưa chủ động trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6. Tai nạn giao thông tuy giảm về số vụ, số người bị thương nhưng tăng về số người chế. Phạm pháp hình sự, tội phạm ma túy, số vụ tự tử, đuối nước vẫn xảy ra nhiều.

B. MỘT SỐ CÔNG TÁC TRỌNG TÂM 3 THÁNG CUỐI NĂM 2018:

I/ Công tác chỉ đạo, điều hành:

1. Từng ngành, từng cấp, đơn vị căn cứ chức năng nhiệm vụ để xây dựng các chương trình, triển khai các giải pháp, kế hoạch cụ thể, xác định rõ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện 03 tháng cuối năm để quyết tâm hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2018 đã đề ra tại Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 04/12/2017 của Tỉnh ủy và Nghị quyết số 92/NQ-HĐND ngày 07/12/2017 của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng trên địa bàn tỉnh năm 2018.

2. Hoàn thành đúng tiến độ các nội dung theo kế hoạch, chương trình làm việc của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh. Chuẩn bị chu đáo các nội dung trình kỳ họp thứ 7, HĐND tỉnh khóa XI.

3. Tăng cường công tác dân vận chính quyền; tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bồi dưỡng và nâng cao năng lực công tác dân vận cho chính quyền các cấp, công chức, viên chức. Thực hiện nghiêm Quy chế làm việc của UBND tỉnh nhiệm kỳ 2016 - 2021. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật, hiệu quả thực thi pháp luật và sự chỉ đạo, điều hành. Thực hiện tốt nhiệm vụ cải cách hành chính; đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Từng cấp, từng ngành, cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, trách nhiệm cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong quá trình thực thi nhiệm vụ. Tăng cường công tác phối hợp giữa các ngành, các cấp để giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong thực thi nhiệm vụ.

4. Các sở, ngành, địa phương, đơn vị quán triệt cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện nghiêm kỷ cương, kỷ luật hành chính, kỷ luật lao động; khẩn trương tập trung giải quyết, xử lý công việc, nhất là những thủ tục trực tiếp liên quan đến sản xuất, kinh doanh, đầu tư của doanh nghiệp và nhân dân.

5. Phát huy vai trò của Tổ công tác của UBND tỉnh, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót trong thực hiện Quy chế làm việc của UBND tỉnh, việc nợ đọng nhiệm vụ được phân công, đề xuất hướng xử lý các vướng mắc.

6. UBND tỉnh đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, các tổ chức hội, đoàn thể tiếp tục triển khai có hiệu quả việc củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tham gia xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tập trung tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên cùng các tầng lớp nhân dân đoàn kết, chung sức, đồng lòng, thực hiện hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội; triển khai thực hiện sâu rộng, có hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua. Đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện các nhiệm vụ của các cấp chính quyền, nhất là trong việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư, chế độ, chính sách tại cơ sở.

II/ Lĩnh vực kinh tế:

1. Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính chủ trì, cùng các sở, ngành, địa phương, đơn vị tập trung hoàn thành việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch đầu tư công và dự toán ngân sách nhà nước năm 2019, kế hoạch tài chính - ngân sách 03 năm 2019-2021. Không để xảy ra tình trạng chậm phân bổ, phân bổ sau, có nhiệm vụ nhưng chưa được bố trí kinh phí trong dự toán năm 2019.

- Sở Kế hoạch và Đầu tư và các sở, ngành, địa phương khẩn trương triển khai xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030.

2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các địa phương tập trung chăm sóc cây vụ mùa, triển khai kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2018-2019. Triển khai Nghị định số 57/2018/NĐ-CP, 58/2018/NĐ-CP, 98/2018/NĐ-CP, 109/2018/NĐ-CP của Chính phủ,...; các kế hoạch, chương trình của ngành nông nghiệp để tạo chuyển biến rõ nét, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình phát triển cánh đồng lớn, tái canh cây cà phê, tưới tiết kiệm nước. Thực hiện đề án đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp. Tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Triển khai kịp thời công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi. Tập trung thực hiện công tác quản lý giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, vệ sinh an toàn thực phẩm hàng nông sản.

- Triển khai quyết liệt các biện pháp để đảm bảo thực hiện hoàn thành kế hoạch trồng mới 7.000 ha rừng trong năm 2018 và chăm sóc diện tích rừng đã trồng. Tiếp tục tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vụ vi phạm. Thực hiện đúng chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về xử lý 12.039 ha cao su trồng trên đất rừng nghèo bị chết và kém phát triển.

- Các ngành, địa phương chủ động triển khai các giải pháp phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn trong mùa mưa lũ; trong đó đặc biệt chú trọng việc kiểm soát an toàn hồ đập; kịp thời cảnh báo, đảm bảo an toàn cho nhân dân vùng hạ du khi vận hành nhà máy thủy điện.

3. Các sở, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TU của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp về xây dựng làng nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình mỗi xã một sản phẩm... Huy động các nguồn lực, triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp với điều kiện địa phương để đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới. Phối hợp triển khai tốt kế hoạch quân đội tham gia xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu trong năm 2018 có ít nhất 11 xã đạt chuẩn nông thôn mới và thị xã An Khê hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

4. Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các ngành, địa phương tăng cường công tác kiểm tra quản lý, sử dụng về đất đai, tài nguyên, khoáng sản và môi trường theo quy hoạch. Rà soát, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, rà soát lại các quỹ đất và hoàn thành việc xây dựng thông tin cụ thể nhằm phục vụ công tác kêu gọi đầu tư. Hoàn thành đúng tiến độ dự án tổng thể xây dựng hệ thống dữ liệu hồ sơ địa chính và cơ sở quản lý đất đai tỉnh. Khẩn trương triển khai việc thu hồi đất của các doanh nghiệp được giao đất nhưng không sử dụng. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác tài nguyên, khoáng sản trái phép trên địa bàn. Tăng cường công tác quan trắc, giám sát, xử lý ô nhiễm môi trường, nhất là tại các khu, cụm công nghiệp, các lưu vực sông, hồ.

5. Sở Công Thương phối hợp với các sở, ngành, địa phương kịp thời cùng với các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, đảm bảo cho các nhà máy chế biến có đủ nguyên liệu để hoạt động ổn định, nâng cao công suất và mua hết nguyên liệu cho người dân. Triển khai các giải pháp phát triển các khu, cụm công nghiệp, Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh. Phát huy công suất các nhà máy điện, nước, khí đốt hiện có, đồng thời tạo điều kiện cho các nhà đầu tư hoàn tất thủ tục sớm đưa dự án vào hoạt động. Khẩn trương hoàn thành các quy hoạch phát triển năng lượng tái tạo.

Ban quản lý Khu kinh tế tỉnh đẩy nhanh tiến độ thi công công trình Cổng Quốc môn, đảm bảo hoàn thành trong tháng 10/2018.

Rà soát các giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, nhất là các mặt hàng có lợi thế của tỉnh, tăng tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng qua chế biến, đảm bảo kim ngạch xuất khẩu đạt 470 triệu USD. Thực hiện tốt các hoạt động xúc tiến thương mại, tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm, mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra, kiểm soát, chống các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định thị trường giá cả.

6. Các, sở, ngành, địa phương, các chủ đầu tư tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 29/5/2018 của UBND tỉnh về tăng cường công tác quản lý thực hiện đầu tư công năm 2018. Theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân vốn đầu tư công, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với từng dự án cụ thể. Đối với các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, phải khẩn trương phê duyệt quyết toán, giải ngân hết số vốn cho nhà thầu theo nội dung hợp đồng. Tăng cường tính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả công tác đấu thầu; đẩy mạnh đấu thầu qua mạng theo lộ trình. Thực hiện tốt công tác phối hợp, đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án quan trọng trên địa bàn như: Đường Hồ Chí Minh đoạn tránh thị trấn Chư Sê; đường liên huyện Chư Păh - Ia Grai - Đức Cơ - Chư Prông; kè suối Hội Phú - thành phố Pleiku, kè Ayun Pa, kè Ia Pa; cải tạo, nâng cấp các Quốc lộ 14, 25, 19C; các công trình thủy lợi, công trình ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường như: dự án đầu tư hồ chứa nước Plei Thơ Ga, hồ chứa nước Tầu Dầu, thủy lợi Plei Keo, thủy lợi Ia Mơr,…

- Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ động làm việc với các chủ đầu tư chậm tiến độ để triển khai các biện pháp tháo gỡ khó khăn; phối hợp với Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước tỉnh rà soát, tổng hợp chính xác các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước đến 30/9/2018 mới giải ngân đạt dưới 50% kế hoạch vốn năm 2018 được giao đầu năm, kiên quyết không bố trí kế hoạch vốn năm 2019; đồng thời đề xuất UBND tỉnh xem xét chuyển nguồn vốn đối với các dự án chậm tiến độ cho các dự án có khối lượng hoàn thành nhưng còn thiếu vốn.

- Các ngành, địa phương, chủ đầu tư khẩn trương hoàn thành các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đảm bảo các dự án khởi công mới năm 2019 phải hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, dự toán thiết kế ngay trong tháng 10/2018, để khởi công thực hiện ngay từ đầu tháng 1/2018. Giao Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì thành lập các đoàn kiểm tra, chỉ đề xuất bố trí vốn cho các dự án có mặt bằng sạch.

7. Sở Tài chính và các sở, ngành, địa phương thực hiện nhiệm vụ tài chính, ngân sách nhà nước một cách chủ động, tích cực, phấn đấu thu ngân sách năm 2018 đạt trên 4.500 tỷ đồng. Thu hồi kịp thời các khoản phát hiện qua kiểm tra, thanh tra, kiểm toán; có giải pháp giảm nợ đọng thuế. Kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tài chính - ngân sách nhà nước, bảo đảm chi ngân sách nhà nước tiết kiệm, hiệu quả.

III/ Lĩnh vực cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ doanh nghiệp, kinh tế tập thể:

1. Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương:

- Tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ, toàn diện kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh; Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh năm 2018 và những năm tiếp theo.

-Triển khai các giải pháp, chính sách cải thiện căn bản, tạo chuyển biến mạnh mẽ các chỉ số về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng theo cơ chế thị trường. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư. Triển khai Chương trình doanh nghiệp khởi nghiệp. Tăng cường công tác phối hợp, cung cấp thông tin các hiệp hội, câu lạc bộ doanh nghiệp để doanh nghiệp nắm, tham gia, đồng hành trong quá trình triển khai thực hiện.

- Rà soát các vướng mắc, chỉ đạo các sở, ban, ngành tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ và tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư. Đôn đốc các nhà đầu tư triển khai dự án đúng quy định, đồng thời kiên quyết xử lý các dự án không triển khai thực hiện đúng nội dung cam kết.

- Thực hiện nghiêm Nghị quyết số 75/NQ-CP ngày 09/8/2017 của Chính phủ. Chủ động rà soát, đề xuất cấp có thẩm quyền loại bỏ ngay các thủ tục, quy định làm phát sinh chi phí không chính thức; bãi bỏ điều kiện kinh doanh không cần thiết, làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp, gây cạnh tranh không bình đẳng.

- Tập trung nâng cao hiệu quả hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh để phục vụ tốt nhu cầu của các tổ chức và cá nhân.

- Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 12/01/2017 của UBND tỉnh về đẩy mạnh phát triển hợp tác xã trên địa bàn tỉnh. Quan tâm, tạo điều kiện để các hợp tác xã thay đổi mô hình hoạt động, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng hoạt động, gắn với chuỗi giá trị; chú trọng việc phát triển HTX tại các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, các mô hình hợp tác xã nông nghiệp gắn với du lịch, cung cấp dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, phát triển cánh đồng lớn.

2. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh chỉ đạo các ngân hàng thương mại tiếp tục triển khai việc thực hiện các chính sách tín dụng nhằm hỗ trợ phát triển doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân, các chính sách ưu đãi về tái canh cây cà phê, tưới tiết kiệm nước, cho vay hỗ trợ nhà ở... Tuyên truyền, vận động nhân dân vay vốn và sử dụng có hiệu quả vốn vay từ các chương trình ưu đãi trong lĩnh vực nông nghiệp, nguồn vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để làm nhà ở, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững. Triển khai các giải pháp đơn giản hóa các thủ tục vay vốn, đề xuất cấp có thẩm quyền điều chỉnh mức lãi suất phù hợp để người dân nghèo, nhất là người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp cận, vay vốn; không để các đối tượng lợi dụng sự thiếu hiểu biết của người dân để cho vay với lãi suất cao.

  IV/ Lĩnh vực văn hóa - xã hội:

          1. Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 2919/CT-BGDĐT ngày 10/8/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2018-2019 phù hợp với điều kiện, đặc thù của tỉnh. Triển khai đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục cơ bản, giáo dục mũi nhọn ở bậc học phổ thông; chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học, tăng cường kỹ năng thực hành; tăng cường tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số. Tập trung các nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia.

 2. Sở Y tế và các địa phương thực hiện tốt các hoạt động phòng chống dịch. Tăng cường các nguồn lực xã hội hóa, hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh và các trung tâm lớn để nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh. Đảm bảo cung ứng đủ thuốc thiết yếu, vật tư y tế, hóa chất xét nghiệm phục vụ cho khám chữa bệnh, phòng, chống dịch bệnh và khi có thiên tai xảy ra. Tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng thuốc, đảm bảo chất lượng thuốc khi đưa vào sử dụng. Nâng cao khả năng quản lý và xử lý chất thải y tế. Tăng cường công tác kiểm tra an toàn thực phẩm.

3. Sở Lao động, Thương binh và Xã hội và các địa phương tiếp tục thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Chủ động triển khai kế hoạch giảm nghèo năm 2018, huy động toàn hệ thống chính trị, mọi nguồn lực thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu đến cuối năm 2018 toàn tỉnh không còn hộ nghèo là người có công; tập trung đẩy nhanh giảm nghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các địa phương phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cơ quan, đơn vị cấp huyện, xã phụ trách công tác giảm nghèo từng thôn, làng; phân công cán bộ phụ trách đến từng hộ gia đình để giúp các hộ dân thoát nghèo bền vững. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo lao động, hỗ trợ giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động. Triển khai tốt kế hoạch đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

4. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các sở, ngành, địa phương triển khai tốt kế hoạch tổ chức Festival văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên tại tỉnh năm 2018. Tiếp tục tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá du lịch, đổi mới hình thức, nội dung quảng bá du lịch để xây dựng và giới thiệu hình ảnh du lịch Gia Lai đến du khách trong và ngoài nước; đẩy mạnh hợp tác, liên kết phát triển du lịch với các tỉnh thành trong nước và hỗ trợ nhau phát triển nhằm phát huy thế mạnh du lịch của mỗi địa phương, đặc biệt chú trọng phát triển du lịch sinh thái, du lịch khám phá, du lịch về nguồn. Quan tâm đầu tư hạ tầng để phát triển du lịch, hình thành các tour, tuyến. Triển khai lập quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch Biển Hồ - Chư Đăng Ya. Bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc. Quản lý tốt các hoạt động tổ chức lễ hội, biểu diễn nghệ thuật. Khuyến khích xã hội hóa, đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao cả ở phong trào và thành tích cao.

5. Sở Khoa học và Công nghệ phát huy vai trò khoa học - công nghệ, đảm bảo các đề tài nghiên cứu phải được áp dụng vào thực tiễn sản xuất và đời sống để tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh, nâng cao thu nhập cho người dân. Khẩn trương triển khai thực hiện việc đăng ký, bảo hộ, quảng bá một số thương hiệu, nhãn hiệu hàng hóa chủ lực của tỉnh.

 6. Sở Thông tin và Truyền thông nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về báo chí. Thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn; cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác thông tin về tình hình kinh tế - xã hội, sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của trung ương, của tỉnh và những vấn đề dư luận quan tâm. Bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng. Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền Luật An ninh mạng. Đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc; xử lý nghiêm các trường hợp lợi dụng, đưa tin bịa đặt, sai sự thật, kích động, gây bất ổn xã hội.

7. Ban Dân tộc chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và địa phương tổ chức kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện chương trình, chính sách dân tộc trên địa bàn tỉnh; đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản, cung ứng giống vật nuôi, cây trồng kịp thời phù hợp với thời vụ gieo trồng; tiếp tục triển khai tổ chức tập huấn nâng cao năng lực cho cộng đồng và cán bộ các xã chương trình 135; tổ chức xây dựng các mô hình phát triển sản xuất tiến tiến, mô hình phát triển kinh tế hộ gia đình cho các đối tượng thuộc chương trình.

 V/ Lĩnh vực nội chính:

1. Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh và các ngành, địa phương tiếp tục triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị trung ương đứng chân trên địa bàn chủ động theo dõi, nắm chắc tình hình, thực hiện đồng bộ các biện pháp bảo vệ biên giới, phòng chống vượt biên, xâm nhập. Đẩy mạnh công tác đấu tranh, bóc gỡ, xử lý các đối tượng hoạt động phục hồi FULRO, "Tin lành Đêga", các biện pháp giải quyết "tà đạo Hà Mòn". Triển khai thực hiện các kết luận của Thanh tra Quân khu 5 về thực hiện Nghị định 119/2004/NĐ-CP.

2. Thanh tra tỉnh và các sở, ngành, địa phương nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tập trung rà soát, giải quyết các vụ khiếu kiện kéo dài, các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, không để phát sinh điểm nóng.

Đề nghị cơ quan thi hành án tập trung rà soát, phân loại án dân sự, làm tốt công tác xác minh điều kiện thi hành án nhằm thi hành kịp thời các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực.

3. Sở Nội vụ và các sở, ngành, địa phương tiếp tục triển khai thực hiện kế hoạch tinh giản biên chế, sắp xếp bộ máy hành chính, đơn vị sự nghiệp theo quy định của Trung ương và Tỉnh ủy (Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017; Kế hoạch số 120-KH/TU ngày 19/3/2018 và Chương trình số 64-CTr/TU ngày 05/6/2018 của Tỉnh ủy). Tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành giờ giấc làm việc của cán bộ, công chức, viên chức.

4. Công an tỉnh đẩy mạnh tấn công trấn áp tội phạm và truy bắt tội phạm. Thực hiện hiệu quả đợt tổng kiểm tra, vận động, thu hồi, phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm về vũ khí, vật liệu nổ; công cụ hỗ trợ. Quản lý tốt các đối tượng tại cộng đồng, nhất là số tù tha, thanh thiếu niên hư. Xử lý nghiêm các vụ vi phạm về khai thác, vận chuyển khoáng sản, lâm sản trái phép. Có các giải pháp cụ thể để giảm thiểu các tai, tệ nạn xã hội như: tự tử, chết đuối. Chủ động ngăn ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời các vụ việc an ninh nông thôn.

5. Các sở, ngành, địa phương triển khai quyết liệt kế hoạch năm an toàn giao thông 2018 với chủ đề “An toàn giao thông cho trẻ em", với mục tiêu phấn đấu giảm từ 5 - 10% cả 3 tiêu chí, đặc biệt là giảm tỷ lệ thương, vong do tai nạn giao thông đối với trẻ em 10% so với năm 2017. Các ngành, địa phương huy động tối đa lực lượng, thường xuyên tuần tra lưu động, kiểm soát, xử lý, đặc biệt là kiểm soát tải trọng phương tiện, xe hết niên hạn vẫn lưu thông, vi phạm nồng độ cồn, vi phạm tốc độ.

6. Tăng cường công tác đối ngoại. Chủ động kết nối với các tổ chức ngoại giao, tổ chức quốc tế; cung cấp, trao đổi thông tin quảng bá, giới thiệu tiềm năng, vận động, kêu gọi đầu tư nước ngoài vào tỉnh./.


[1] Trong đó: Cây lương thực 120.882 ha, đạt 97,8% kế hoạch (lúa cả năm đạt 101,5%, ngô đạt 92,4%); cây tinh bột có củ 71.202 ha, đạt 105,5% (sắn 105,5%; khoai lang đạt 104,9%); cây thực phẩm 46.768 ha, đạt 100,1% (đậu các loại đạt 100,9%; rau các loại đạt 99,6%); cây công nghiệp ngắn ngày 48.135 ha, đạt 96,6% (lạc đạt 104,4%; mè đạt 94%; thuốc lá đạt 113,2%; mía đạt 95%; cây hàng năm khác 9.102 ha, đạt 100%; cây công nghiệp dài ngày 230.228 ha, đạt 100,3%; cây ăn quả, dược liệu, cây lâu năm khác 7.000 ha, đạt 100%.

[2] Trong đó: Doanh nghiệp 183,4 ha; hộ gia đình 3.050,6 ha.

[3] Có 06 dự án lập 18 cánh đồng lớn với 2.200 ha mía; 02 dự án lập 02 cánh đồng lớn với 199,3 ha cà phê; 03 dự án lập 04 cánh đồng lớn với 242 ha lúa; tổng kinh phí dự kiến là 766,68 tỷ đồng.

- Dự kiến trong 02 năm 2018-2019, Công ty Cổ phần xuất khẩu Đồng Giao sẽ liên kết nông dân để sản xuất khoảng 12.830 ha rau quả các loại, trong đó năm 2018 triển khai sản xuất khoảng 4.830 ha, gồm: Chanh dây 1.400 ha, đậu tương 1.100 ha, dứa 700 ha, chuối tiêu 230 ha, bắp ngọt 650 ha, rau chân vịt 600 ha, măng 150 ha.

[4] Gồm: Hồ tiêu: 2.925,6 ha; cà phê: 10.452,3 ha; cây ăn quả: 2.499,8 ha; rau, màu: 3.407 ha; hoa: 6,3 ha; mía: 2.805,4 ha; các loại cây trồng khác: 1.474,4 ha.

[5] Trong đó phá rừng làm rẫy 33 vụ, chế biến gỗ và lâm sản trái phép 04 vụ, khai thác rừng trái phép 29 vụ, vi phạm quy định về mua bán, vận chuyển, cất giữ lâm sản trái phép 344 vụ, vi phạm khác 06 vụ.

[6] Các sản phẩm tăng so với cùng kỳ: Chế biến đường tinh chế tăng 44,15%, sản phẩm MDF tăng 10,25%, sản lượng điện sản xuất tăng 3,13%, chè các loại tăng 3,43%, phân vi sinh tăng 5,35%...

  - Các sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Chế biến sữa giảm 12,7%, chế biến tinh bột sắn giảm 29,02%, đá granit giảm 13,08%.

[7] Trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh giải ngân 690 tỷ đồng, đạt 55,7% kế hoạch, vốn ngân sách TW giải ngân 368,4 tỷ đồng, đạt 51,4%; vốn TPCP giải ngân 305,8 tỷ đồng, đạt 51,5%; vốn ODA giải ngân 40,35 tỷ đồng, đạt 9,5%; vốn kéo dài năm 2017 sang 2018 giải ngân 132,06 tỷ đồng, đạt 37,3%.

[8] Gồm: Đường liên xã huyện Ia Pa; 3 đường khí Bệnh viện đa khoa tỉnh; Thủy lợi hồ chứa nước Ia Rtô.

[9] Gồm: Kè chống sạt lở suối Hội Phú; Kè chống sạt lở bờ tây sông Ayun, thị xã Ayun Pa; Sửa chữa và nâng cao an toàn đập; Dự án VnSat; Dự án chăm sóc sức nhân dân các tỉnh Tây Nguyên; Dự án nâng cao năng lực PCCCR.

[10] Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có 05 nhóm hàng tăng so với tháng trước: Nhóm giáo dục tăng 0,8%; giao thông tăng 0,73%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,01%. 03 nhóm hàng giảm: Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD giảm 1,6%; văn hóa, giải trí và dịch vụ khác giảm 0,01%; hàng hóa khác giảm 0,01%. 03 nhóm hàng bình ổn giá: Nhóm đồ uống, thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông.

[11] Trong 9 tháng đầu năm có 04 chi nhánh ngân hàng mới đi vào hoạt động (Chi nhánh Ngân hàng Hợp tác xã, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Hàng hải, Chi nhánh Ngân hàng TMCP Ngoại thương Bắc Gia Lai và Chi nhánh Ngân hàng TMCP Bản Việt). Trên địa bàn hiện có 22 chi nhánh ngân hàng thương mại, 01 chi nhánh ngân hàng Hợp tác xã, 01 chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội, 01 chi nhánh ngân hàng phát triển và 06 quỹ tín dụng nhân dân với 133 điểm giao dịch. Toàn tỉnh có 173 máy ATM và 807 POS; có 1.836 đơn vị hưởng lương ngân sách nhà nước thực hiện trả lương qua tài khoản với 59.231 thẻ.

[12] Qua giám sát hành trình phát hiện xử lý thu hồi phù hiệu một tháng đối với 89 phương tiện vi phạm không truyền dữ liệu về máy chủ Tổng cục ĐBVN; 08 phương tiện vi phạm về tốc độ vận hành và thời gian lái xe liên tục; 01 phương tiện hợp đồng vi phạm về chế độ báo cáo; đình chỉ khai thác tuyến 01 tháng đối với 1 đơn vị vì hoạt đông không đạt tần suất.

- Kiểm tra, phát hiện 391 lượt phương tiện vi phạm, xử phạt với số tiền trên 4,7 tỷ đồng; tước quyền sử dụng có thời hạn 204 loại giấy tờ liên quan; hạ tải758,5 tấn hàng hóa

[13] Vận chuyển hàng hoá ước đạt 17.774 nghìn tấn, bằng 66,88% kế hoạch, tăng 8,55% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.790 triệu tấn/km, bằng 68,28% kế hoạch, tăng 8,78%. Vận chuyển hành khách ước đạt 15.226 nghìn hành khách, bằng 73,85% kế hoạch, tăng 6,63%; luân chuyển hành khách ước đạt 2.357 triệu hành khách/km, bằng 75,54% kế hoạch, tăng 6,52%.

[14] Chỉ số năng lực cạnh tranh  (PCI) năm 2017 của tỉnh đứng thứ 43 toàn quốc, đứng thứ 3 khu vực Tây Nguyên, tăng 03 bậc so với năm 2016; điểm tổng hợp đạt 60,91 điểm, tăng 3,49 điểm.

[15] Chỉ số cải cách hành chính (Par Index) năm 2017 của tỉnh đứng thứ 50/63 tỉnh, thành phố, với chỉ số trung bình đạt 73,68, giảm 25 bậc so với năm 2016 và đứng thứ 3 khu vực Tây Nguyên.

[16] Có 07 trường đỗ tốt nghiệp 100%: Trường PT DTNT tỉnh, trường THPT DTNT Đông Gia Lai, THPT Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Phạm Hồng Thái, Y Đôn và Trường Quốc tế Châu Á Thái Bình Dương - Gia Lai.

[17] Toàn tỉnh hiện có 788 trường mầm non và phổ thông với 12.784 lớp học (267 trường mầm non, 3.188 lớp; 239 trường tiểu học, 5.988 lớp; 233 trường THCS, 2.645 lớp; 49 trường THPT, 963 lớp)

[18] Có 03 bệnh viện tư nhân (Bệnh viện Đại học Y dược Hoàng Anh Gia Lai, Bệnh viện Mắt Quốc tế Sài Gòn - Gia Lai và Bệnh viện Mắt Cao Nguyên); 613 cơ sở hành nghề y tư nhân và 695 cơ sở hành nghề dược tư nhân.



UBND tỉnh Gia Lai

CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ TỈNH GIA LAI | Cơ quan chủ quản: UBND tỉnh Gia Lai
© 2010 Bản quyền thuộc về Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Gia Lai.
02 Trần Phú, TP Pleiku, Tỉnh Gia Lai - Tel: 0269. 3824404 - Fax: 0269. 3824711 - Email: vpubndtinh@gialai.gov.vn
Giấy phép số: 09/GP-TTĐT cấp ngày 31/7/2017 do Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai cấp - Người phụ trách: ông Ngô Ngọc Sinh